Kỹ năng sống

Kỹ năng sống là gì? Ở bài này, chúng ta thảo luận các kỹ năng sống là gì và vì sao chúng lại quan trọng đối với sự phát triển của bạn. Đồng thời Tuổi Hoa sẽ cung cấp cho bạn những bài viết chi tiết về một số các kỹ năng sống cụ thể ở phần cuối bài này. Các kỹ năng sống kết hợp với hành trang kiến thức sẽ giúp bạn đưa ra những quyết định sáng suốt, giúp bạn có lối sống lành mạnh hơn.

Trước khi đi vào phần nội dung khái niệm Kỹ năng sống, Tuổi Hoa sẽ giới thiệu tới các bạn “Mô hình bắc cầu” dưới đây để hỗ trợ các bạn hiểu một cách dễ dàng hơn khái niệm này.

Mô hình bắc cầu ví dụ về kỹ năng sống

Hãy theo dõi câu chuyện sau về Hoa và Mai.

Hoa đang là một học sinh năm cuối của một trường trung học thì cô phải nghỉ học vì mang thai ngoài ý muốn. Cô đã nhiều lần khuyên Mai, bạn của cô tập trung vào việc học hành và tránh xa chuyện yêu đương trai gái, quan hệ giới tính, v.v… trước khi hoàn thành khoá học.

Mai là một học sinh năm đầu của một trường trung học và cô đang là một học sinh xuất sắc trong khối. Bất chấp những lời cảnh báo và bài học từ người bạn của mình, cô đã có mang và đến báo tin cho Hoa.

Hoa đang ngồi bên ngoài hiên, Cô đang ru đứa con nhỏ trên tay. Ngồi một mình bên đứa con nhỏ, cô nói về nỗi mệt nhọc vất vả cô đang phải trải qua như thế nào vào bao nhiêu công việc phải lo toan khi có con đối với một cô gái còn đang học bậc trung học. Có thể cô sẽ nói những lời như: “Ôi, đứa con bé bỏng – mày thật là phiền toái! Mày cứ bắt mẹ mày phải thức suốt ngày suốt đến như thế này à! Mày không bao giờ chịu nín hay sao?”

Mai bước vào và Hoa vui vẻ đón bạn. Mai ngồi xuống và tỉ tê với bạn. Cô hỏi thăm sức khoẻ của đứa bé và Hoa đã nói với cô rằng có con làm cho cô luôn cảm thấy ốm yếu và cô không hề được chợt mắt suốt cả đêm. Hai người bạn ngồi tán ngẫu với nhau trước khi Hoa than phiền về việc cô thấy thật là kỳ quặc khi thấy Mai ở đây mà giờ này lẽ ra cô đang đi học. Hoa hỏi Mai tại sao cô không đi học, nhưng Mai đã lảng sang chuyện khác và nói về đứa con của Hoa. Hoa lại hỏi Mai và Mai lại cố tình vờ sang chuyện khác, cô hỏi Hoa về Chương bạn trai của Hoa. Hoa cho biết cô không có bất cứ thông tin nào của Chương từ khi sinh đứa trẻ. Cô có nghe thấy thông tin rằng bây giờ hắn ta đang theo học tại Hà Nội, tuy nhiên, chưa bao giờ Chương trở lại thăm đứa con của mình. Hoa hồi tưởng lại, lẽ ra cô cũng có thể lên Hà Nội học – với số điểm thi tương đối cao của mình – và cô nhắc nhở Mai điều quan trọng là phải tránh xa những bọn con trai theo kiểu này và tập trung vào việc học tập.

Một lần nữa Hoa hỏi lại Mai tại sao lại ở đây thay vì đang đi học. Mai chỉ trả lời một cách bâng quơ như kiểu – “Chị Hoa à, chị có nhớ lời khuyên mà chị luôn khuyên nhủ em?” Hoa trả lời “Tất nhiên là chị nhớ – chính chị đã nói với em mà ! Đừng bao giờ mắc phải những sai lầm tương tự như chị – hãy quên lũ con trai đi cho đến khi nào em học xong. Từ bỏ quan hệ giới tính là cách tốt nhất đề tránh có mang hoặc mắc các chứng bệnh nan y – thậm chí là AIDS!” Mai nói thêm. “Thế chị còn khuyên em điều gì khác nữa?”

Hoa nói, “Chị đã khuyên em là nếu em và Hùng, bạn trai của em không thể từ bỏ được việc quan hệ giới tính, thì phải luôn nhớ sử dụng bao cao su. Em phải luôn nhớ lấy điều đó!” Thậm chí chị còn đưa cho em một số bao cao su! Trời đất! Nhưng, hãy nói cho chị biết đi, thực ra hôm nay em đến đây là có chuyện gì vậy? Em đang gặp rắc rối à? Có chuyện gì vậy?

Bây giời thì Mai bật khóc, và thú nhận rằng cô đã có con với Hùng. Hoa trở nên rất tức giận. Cô đã luôn nhắc nhở và khuyên bảo Mai mọi điều, cô nhắc nhở Mai về tấm gương cuộc đời cô. Và Mai đã phản đối với ý kiến như “Nhưng anh ấy yêu em! Anh ấy hứa cưới em”. Hoa nhắc Mai rằng Chương cũng nói với cô những điều tương tự. Hoa hỏi tại sao Mai lại có quan hệ với Hùng sau tất cả các lời cảnh báo của cô. Mai cho biết Hùng đã đe dọa bỏ cô nếu cô không quan hệ với hắn. Hắn nói đó là cách duy nhất để chứng tỏ rằng cô yêu hắn, và mọi ngườì yêu nhau đều có quan hệ giới tính với người mình yêu… Hoa hỏi Mai tại sao Mai không sử dụng các bao cao su mà cô đưa cho Mai. Mai cho biết Hùng đã từ chối sử dụng chúng.

Cuối cùng, bằng sự biện hộ của bản thân, Mai nói, “Ồi, Tại sao phải đợi. Có con bây giờ thì đã sao nào? Hùng sắp sửa trở thành một bác sỹ. Em muốn trở thành vợ của anh ấy! Có gì khác biệt nếu em thôi học đâu? Chị hãy nhìn Hạnh ý mà xem – bạn ấy đã bỏ học và bây giờ đang ở nhà. Bạn ấy có phải làm bất kỳ công việc gì đâu!”

Mai đã được cung cấp những kiến thức để biết rằng nếu cô có quan hệ không an toàn thì có thể cô sẽ có mang. Bạn của cô cũng đã cảnh báo cô về một số hậu quả của việc mang thai sớm. Vậy mà Mai đã không để tâm đếm những kiến thức của mình và kết quả là cô đã có mang. Vì sao vậy?

Chỉ kiến thức thôi đã không giúp Mai tránh được việc mang thai sớm. Vậy thì những yếu tố nào khác có thể giúp Mai tránh được những hậu quả đó?

Chúng ta có thể so sánh cuộc sống với hai ngọn núi bị chia cắt bởi một vùng biển. Bạn có thể biết nhiều về những nguy cơ bạn sẽ gặp phải khi bước chân đi lên ngọn núi bên kia bờ biển. Bạn đang làm chủ các kiến thức cần thiết và bạn cần phải bảo vệ chính bản thân mình an toàn khỏi các nguy cơ đó. Bạn có thể sẽ hình dung ra ngay là phải xây dựng một cây cầu bắc qua biển để sang được đích một cách an toàn tốt đẹp nhất.

Cây cầu cuộc sống

Cây cầu của bạn được hình thành từ những tấm ván mà bạn sẽ xây dựng nên. Khi bạn đi qua cầu thì bên dưới là một vùng biển mà có thể bạn sẽ bị rơi xuống. Để tránh bị té xuống biển bạn cần xây dựng cây cầu từ những tấm ván được chuẩn bị kỹ càng và việc xây dựng cây cầu cũng phải cẩn thận. Chỉ cần một vài tấm ván bị yếu hoặc các tấm ván được ghép với nhau không chắc chắn thì nguy cơ bạn bị rơi xuống biển là rất cao. Thêm vào đó bạn cũng cần luyện tập để giữ thăng bằng trong những trường hợp có gió bão bất chợt xảy ra trong quá trình đi trên cầu. Những điều này có đúng không các bạn?

Quay lại việc so sánh trên, vùng “biển” này tượng trưng cho các cám dỗ hay tệ nạn xã hội xảy ra trong cuộc sống, còn việc xây dựng cây cầu và đi trên cầu để sang ngọn núi bên kia trượng trưng cho hành trình cuộc sống của bạn. Việc bạn chuẩn bị những tấm ván, việc bạn ghép các tấm ván lại với nhau và việc bạn đi trên cây cầu chính là những kỹ năng. Nếu bạn có những kỹ năng tốt và nếu bạn biết kết hợp với những kiến thức mà bạn đã có thì bạn có thể có một cuộc sống lành mạnh, tránh bị rơi vào tệ nạn hay bất hạnh.

Qua ví dụ trên, có thể bạn đã hình dung ra kỹ năng sống là gì rồi chứ?! Tuy nhiên, để bạn có thể nắm rõ khái niệm và phân loại các kỹ năng sống để cùng rèn luyện, xin mời bạn đọc tiếp mục sau nhé!

Kỹ năng sống là gì?

 Hiện nay chưa có một khái niệm nào thống nhất trên toàn thế giới về “Kỹ năng sống”. Khái niệm “Kỹ năng sống” được tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau, và điều này cũng ảnh hưởng đến cách phân loại các “Kỹ năng sống”.

Khái niệm Kỹ Năng Sống theo UNESCO

Quan niệm rộng nhất là quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở là 4 mục tiêu cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống. Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”.

Theo quan niệm này, “Kỹ năng sống” được phân loại thành:

  • Các kỹ năng cơ bản: kỹ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày. Những kỹ năng này không mang đặc trưng tâm lý nhưng là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống.
  • Các kỹ năng chung (kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội) như các kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp…
  • Các kỹ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như:
    • Các vấn đề về giới, giới tính.
    • Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá…
    • Các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực…
    • Các vấn đề về gia đình, trường học…
    • Các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng

Mỗi cá nhân cần phải có cả 3 thành tố này trong sự thống nhất, tính chỉnh thế của chúng.

Khái niệm Kỹ Năng Sống theo WHO

Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo đó, WHO định nghĩa “Kỹ năng sống là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.

Theo quan niệm này, các “Kỹ năng sống” được phân loại thành 3 nhóm:

  • Nhóm các kỹ năng nhận thức: kỹ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề…
  • Nhóm các kỹ năng xã hội: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng cảm thông, kỹ năng hợp tác…
  • Nhóm các kỹ năng cảm xúc: kỹ năng ứng phó với cảm xúc, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc…

Khái niệm Kỹ Năng Sống theo UNICEF

Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF),“”Kỹ năng sống” là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Với quan niệm này, “Kỹ năng sống” được phân loại thành 3 nhóm: kỹ năng xã hội, kỹ năng phát triển nhận thức và kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân, cụ thể như sau:

  • Nhóm kỹ năng xã hội:
    • KN giao tiếp
      • Truyền thông bằng lời và không bằng lời
      • Lắng nghe tích cực
      • Biểu lộ cảm xúc, phản hồi
      • Kỹ năng quan hệ, tương tác liên nhân cách
    • KN đàm phán, thương lượng, từ chối
      • Thương lượng và xử lý mâu thuẫn
      • Kỹ năng tự khẳng định
      • Kỹ năng từ chối
    • KN quan hệ xã hội
    • KN làm việc nhóm/hợp tác
    • KN thấu cảm
    • Kỹ năng động viên (advoccacy skills)
      • Kỹ năng ảnh hưởng và thuyết phục
      • Kỹ năng tạo mạng lưới và động viên
  • Nhóm kỹ năng phát triển nhận thức:
    • KN ra quyết định và giải quyết vấn đề:
      • Kỹ năng thu thập thông tin
      • Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại đối với bản thân và người khác
      • Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề
      • Kỹ năng phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác.
    • KN suy nghĩ có phán đoán
    • KN tư duy sáng tạo
  • Nhóm kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân:
    • KN quản lý căng thẳng
      • Quản lý thời gian
      • Tư duy tích cực
      • Kỹ thuật thư giãn
    • KN quản lý cảm xúc
      • Làm chủ sự tức giận
      • Xử lý những đau buồn và lo âu.
      • Đối phó với những sự mất mát, lạm dụng, chấn thương
    • KN tự điều chỉnh (tự ý thức, tự chủ)
      • Ý thức về giá trị bản thân/ Kỹ năng xây dựng sự tự tin
      • Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân.

Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác của nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu khác trên thế giới, chẳng hạn như tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc) lại phân loại “Kỹ năng sống” thành 3 dạng:
– Kỹ năng sống để phát triển cá nhân
– Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác
– Kỹ năng công nghệ thông tin (theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị).

Phân loại Kỹ Năng Sống phổ biến nhất

Tuy có sự khác biệt về quan niệm về “Kỹ năng sống” nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đã thống nhất 10 kỹ năng sống cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người.

  1. Kỹ năng ra quyết định
  2. Kỹ năng giải quyết vấn đề
  3. Kỹ năng tư duy sáng tạo
  4. Kỹ năng tư duy phê phán / suy nghĩ có phán đoán
  5. Kỹ năng truyền thông có hiệu quả
  6. Kỹ năng giao tiếp giữa người và người
  7. Kỹ năng tự nhận thức bản thân
  8. Khả năng thấu hiểu và đồng cảm
  9. Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
  10. Kỹ năng ứng phó với stress

 

Tài liệu tham khảo:
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kỹ_năng_sống
2. Global evaluation of life skills education programmes by UNICEF (Evaluation Report)
3. Đào Thị Oanh (chủ biên) (2007), Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay, NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Thị Oanh (chủ biên) (2008), 10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, NXB Trẻ, TPHCM.
5. Nguyễn Thị Oanh (2008), Kỹ năng làm việc nhóm, NXB Trẻ, TPHCM.
6. Nguyễn Thị Oanh (2008), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, NXB Trẻ, TPHCM.
7. Huỳnh Văn Sơn (2009), Bạn trẻ và kỹ năng sống, NXB Lao động – Xã hội, TPHCM. 

URL bài viết: https://tuoihoa.net/ky-nang-song-la-gi/

Chia sẻ